Khi nói rằng quá trình phân tích của tác giả chưa hoàn chỉnh nghĩa là chúng ta cho rằng tác giả chưa giải quyết được tất cả các vấn đề đặt ra trước đó; chưa tận dụng được các tài liệu của mình một cách tốt nhất; hoặc không nhận ra các ý tiềm ẩn cũng như những nhánh khác nhau của vấn đề đặt ra; hoặc không làm nổi bật được nét khác biệt và độc đáo liên quan tới vấn đề được nêu. Tiểu sử cuối cùng làm được việc này, còn tiểu sử được uỷ quyền viết (hầu hết tiểu sử của những người đang sống đều thuộc loại này) thì vẫn còn nhiều điều phải làm. Những cuốn sách hay nhất là những cuốn có cấu trúc dễ hiểu nhất.
Có hai điểm khác nhau giữa việc tìm ra các thuật ngữ ẩn trong từ và các nhận định ẩn trong câu. Khoa học luôn hướng tới mô tả các hiện tượng càng chính xác càng tốt và tìm ra mối liên quan giữa các hiện tượng khác nhau. Nó cần phải được hoàn thành bằng việc phê bình, đánh giá sách.
Có ba kiểu ghi chú khác nhau khi đọc sách. Việc này xuất phát từ những hiểu biết còn chung chung và khá mơ hồ về cuốn sách. Có thể, anh ta có một thuyết hay một triết lý chung nào đó, giống như Thượng đế điều khiển mọi chuyện của con người và làm cho câu chuyện lịch sử của anh ta khớp với lý thuyết đó; hoặc anh ta có thể bỏ bất cứ khuôn mẫu nào ở trên, thay vào đó tuyên bố rằng anh ta đơn thuần tường thuật lại những sự kiện đã thật sự xảy ra.
Đây chính là những từ hàm chứa các phân tích, lý luận của tác giả. Theo quan điểm này, tác giả chỉ chịu sự phán xét của những người cùng địa vị. Trong quá trình đọc kiểm soát, đặc biệt là với một cuốn sách dài và khó, bạn có thể hiểu thấu đáo ý kiến của tác giả về chủ đề mà họ nêu ra.
Có thể bạn chỉ đánh dấu những từ cụ thể sau khi gặp khó khăn trong việc tìm hiểu ý nghĩa một câu. Một bộ phận các từ dùng để diễn tả những ý tưởng chính, những khái niệm cốt yếu mà tác giả muốn đề cập đến sẽ góp phần tạo nên hệ thống từ vựng riêng của tác giả đó. Ba lời nhận xét phê bình đầu tiên liên quan đến độ chính xác trong các ý kiến và suy luận của tác giả.
Những phần tóm tắt như thế bây giờ không còn thông dụng nữa, trừ một vài trường hợp hiếm hoi, có thể do độc giả không còn hứng thú với mục lục như trước đây. Hầu hết mọi người được dạy là phải chú ý đến những điều mình không hiểu; phải tra từ điển khi gặp lại những từ lạ; tìm trong sách tham khảo nếu gặp những nhận định khó hiểu; tìm sự trợ giúp ở phần ghi chú, giải thích của các học giả hay các nguồn hỗ trợ khác… nhưng nếu vội vàng làm những điều này thì chúng chỉ ngăn cản chứ không giúp gì cho việc đọc của chúng ta. Đây cũng chính là một trong những điểm khác nhau cơ bản giữa các tác phẩm thơ ca và tác phẩm mô tả.
Những tác phẩm như vậy đã bị cấm lưu hành và bị kiểm duyệt nhiều lần trong lịch sử nhân loại với lý do rất rõ ràng như E. Điều này chỉ có thể xảy ra khi câu hỏi chỉ đơn thuần hỏi về dữ kiện. Có những từ được tác giả dùng theo lối dân gian như trong ca dao, tục ngữ nên độc giả hiểu chúng không mấy khó khăn.
Một triết gia sẽ dẫn người đọc hướng tới kinh nghiệm chung, thông thường của họ để kiểm chứng, xác thực hay ủng hộ những gì người viết đưa ra. Dữ kiện không phải là vật chất giống như từ, những dữ kiện cần phải được giải thích. Như vậy, có thể tạm định nghĩa Đọc sách như một nghệ thuật là quá trình vận dụng trí óc của con người để suy ngẫm về những con chữ, mà không có bất cứ sự trợ giúp nào từ bên ngoài.
Giai đoạn đầu tiên gọi là sẵn sàng đọc. Nhiệm vụ của người đọc đồng chủ đề là xác định các vấn đề sao cho chúng được kết nối càng nhiều càng tốt. Đây là một trong những lợi ích chính của việc đọc theo phương pháp này.
Nó được định vị dứt khoát bởi ý nghĩa mà bạn và tác giả cùng thống nhất khi sử dụng. Cả hai giai đoạn của đọc kiểm soát là các bước chuẩn bị của độc giả trước khi họ đọc kiểu phân tích. Các câu hỏi liên quan đến cái tốt và cái xấu, hay cái đúng và cái sai (giải quyết những gì nên làm và nên tìm kiếm) thuộc phân nhánh triết học thực tiễn hay quy phạm.